Chuyển đến nội dung chính

Gai cột sống và thoái hóa cột sống

Thoái hoá cột sống cổ là một bệnh thường gặp ở người trung, cao tuổi. Tổn thương thoái hoá của sụn khớp gây ra do quá trình sinh tổng hợp chất cơ bản (proteglycan) bởi các tế bào sụn có sự bất thường. Đặc trưng của bệnh là quá trình mất sụn khớp của lớp tế bào dưới sụn; tổ chức xương cạnh khớp được tạo mới. Ở thoái hoá cột sống, có sự kết hợp giữa hai loại tổn thương mang tính định khu đó là thoái hoá đĩa đệm và thoái hoá mỏm liên sau.
Bệnh thường kèm theo các hội chứng ép rễ tại vùng cột sống, do tuỷ sống nằm trong ống sống quá hẹp. Nguyên nhân hẹp ống sống thường gặp nhất là do thoái hóa cột sống, với các gai xương làm cho khẩu kính của ống sống giảm đi. Thoát vị đĩa đệm làm tăng thêm bệnh cảnh lâm sàng của thoái hoá cột sống, gai cột sống
gai cột sống, bệnh gai cột sống, bệnh gai cột sống lưng
Trên lâm sàng các hội chứng thường phong phú, trong đó bao gồm hội chứng rễ chiếm tỉ lệ cao nhất khoảng 72%, sau đó đến hội chứng thiểu năng tuần hoàn sống – nền, hội chứng cột sống cổ đơn thuần (đau tại cột sống cổ, kiểu cơ học kéo dài), ngoài ra, có thể gặp triệu chứng đau ngực:
- Triệu chứng đau rễ thần kinh cổ cánh tay: Gặp trên 70% bệnh nhân thoái hoá cột sống cổ có thoát vị đĩa đệm, tổn thương chủ yếu ở các đốt từ C5 đến C7, đau thường xuyên xuất hiện từ từ, lan dần từ cổ xuống vai, cánh tay, cẳng tay, ngón tay, tê bì các ngón 4,5. Đau 1 bên, ở một vị trí cố định, ngoài ra bệnh nhân còn có cảm giác đau ngoài da vùng thoát vị đĩa đệm, biểu hiện rối loạn vận mạch, rối loạn dinh dưỡng như toát mồ hôi, nôn nao, chóng mặt, teo cơ các vùng chi bị chi phối bởi các nhánh thần kinh ở vị trí tổn thương của cột sống như teo cơ ô mô cái, rối loạn phản xạ cơ tam đầu, gân cơ nhị đầu…
- Nhức đầu chủ yếu vùng chẩm, lan ra thái dương, trán, hố sau mắt, đau tăng khi có thay đổi tư thế, không có dấu hiệu tổn thương thần kinh.
- Hội chứng rối loạn thần kinh giao cảm cổ: Nhức đầu, hoa mắt chóng mặt ù tai, mờ mắt, loạn cảm họng, nuốt vướng.
- Đau ngực, đau vùng bả vai lan ra ngực trái, có thêr lan xuống cánh tay, đau tương tự như cơn đau do co thắt mạch vành tim nhưng các xét nghiệm về điệntâm đồ hoàn toàn bình thường.
- Nếu có dấu hiệu chèn ép tuỷ cổ: Bệnh nhân thường thấy có dấu hiệu liệt nửa người hoặc tứ chi tăng dần. Chẩn đoán chủ yếu dựa vào hinh ảnh chụp cắt lớp vi tính hoặc MRI.
Lưu ý: Hình ảnh Xquang không thể nhìn thấy được các hình ảnh tổn thương do chèn ép tuỷ, chỉ có thể nhìn thấy hình ảnh hẹp các khe khớp, hẹp lỗ liên hợp các ống sống, hình ảnh chồi xương, mọc thêm xương. Bệnh có thể chủ yếu điều trị nộị khoa tức là dùng thuốc kết hợp với các phương pháp không dung thuốc khác, cũng như cần được khám, chẩn đoán loại trừ các trường hợp phải can thiệp ngoại khoa.
Các thuốc điều trị thoái hoá cột sống cổ:
1/ Thuốc điều trị tác dụng nhanh:
- Thường dùng các thuốc chống viêm không steroid như Voltaren, Felden, Diclophenac…trong đó cácthuốc có thời gian bán huỷ nhanh thường tốt hơn loại chậm, liều dùng cần giảm liều ở người già và thận trọng với những người suy gan, tim, thận,. Nếu dùng kéo dài thì phải phát hiện các tác dụng phụ bằng cách cứ 6 đến 8 tháng phải làm xét nghiệm công thức máu, chức năng thận, man gan. Đối với người có bệnh lý dạ dày tá tràng, thuốc có thể gây xuất huyết tiêu hoá,có thể hạn chế bằng các đồng đẳng của Prostaglandin E1(Cytotex).
- Các thuốc giảm đau: Đóng vai trò quan trọng trong điều trị thoái hoá khớp nói chung, nhóm này ít độc với dạ dày và thận hơn là nhóm thuốc chống viêm không steroid, cách dùng thuốc giảm đau cũng tuân theo sơ đồ bậc thang của OMS (thăm dò để tìm ra liều tối thiểu mà có tác dụng điều trị trên bệnh nhân), thuốc thường dùng là Paracetamol.
2/ Thuốc chống thoái khớp tác dụng chậm:
Đây là một nhóm thuốc điều trị mới, được đặc trưng bởi hiệu quả đối với triệu chứng xuất hiện muộn (trung bình khoảng 2 tháng), tuỳ từng laọi thuốc cụ thể mà có tác dụng chủ yếu là kích thích tế bào sụn khớp sản xuất ra proteoglycan có cấu trúc bình thường hoặc có tác dụng giảm huỷ sụn khớp, hoặc có tác dụng bôi trơn và bao phủ sụn khớp, ngăn cản sự mất proteoglycan bởi các khuôn sụn… Hiệu quả này được duy trì cả sau khi ngừng điều trị(sau 2 đến 3 tháng). Tuy nhiên, thường thuốc phải được dùng kéo dài từ 1 đến 2 tháng hoặc hơn nữa trong một liều trình, thuốc thường được dung nạp tốt, ít tác dụng phụ, gồm một số các thuốc như sau: Glucosamin sulphat; Chondroitine suphat, Acide Hyaluronic…
Để chẩn đoán và điều trị bệnh thoái hoá cột sống cổ, bác không nên tự ý dùng thuốc mà nhất thiết phải đi khám và theo dõi bệnh bởi bác sĩ chuyên khoa xương khớp.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Sức đề kháng thấp có thể gây viêm vùng chậu

Nếu như sức đề kháng của các bạn nữ yếu thì đây là cơ hội của vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể, từ đó gây ra viêm vùng chậu, nên các bạn nữ bình thường cần tích cực tâm gia các hoạt động để đề cao sức đề kháng, tránh bị vi khuẩn gây viêm vùng chậu, các bạn nữ cần chú ý với các vấn đề khác có thể gây viêm vùng chậu . 1. Sức đề kháng: sau các kỳ kinh nguyệt hay tiểu sản, cơ thể sẽ yếu đi, sức đề kháng thấp, rất dễ tạo cơ hội cho vi khuẩn xâm nhập gây ra viêm vùng chậu. 2. Chứng viêm: nếu các bạn nữ mắc bệnh viêm ruột thừa, viêm kết mạc hay các chứng viêm ở cơ quan lân cận mà không được điều trị kịp thời, và trực tiếp kéo đến vùng chậu gây ra viêm vùng chậu. Ngoài ra, các bạn nữ mắc bệnh phụ khoa nếu không dược đ...

Nguyên nhân thường gặp gây tình trạng kinh nguyệt không đều

Kinh nguyệt không đều là vấn đề phần lớn phụ nữ điều gặp phải, mặc dù có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng kinh nguyệt không đều , nhưng trừ một số nhân tố đặc biệt ra, chỉ có vài nguyên nhân thường gặp nhất dẫn đến tình trạng kinh nguyệt không đều, hy vọng bài giới thiệu sau đây của Trung tâm điều trị phụ khoa Ezilabeth có thể giúp được nhiều phụ nữ thoát khỏi tình trạng kinh nguyệt không đều. 1. Sự mất cân bằng nội tiết tố: đây là một trong những nguyên nhân thường gặp dẫn đến tình trạng kinh nguyệt không đều, đặc biệt là vào thời kỳ dậy thì hoặc thời kỳ mãn kinh, do mất cân bằng nội tiết tố dẫn đến ra máu ở chu kỳ kinh không có trứng rụng (chu kỳ anovulatory), nên khi mới bắt đầu có kinh hoặc khi sắp dứt kinh, xuất hiện tình trạng kinh nguyệt bị rối loạn hay gọi là kinh nguyệt không đều. 2. Máu khó đông: những người thiếu tiểu cầu hoặc mắc bệnh bạch huyết điều...

Phá thai như thế nào là an toàn nhất

Phá thai an toàn Phá thai an toàn là phương pháp chấm dứt thai nghén do người cung cấp dịch vụ được đào tạo, có kỹ năng tốt thực hiện tại cơ sở y tế đạt chuẩn với đầy đủ các trang thiết bị, dụng cụ trong môi trường vệ sinh đảm bảo. Phá thai an toàn sẽ hạn chế được tối đa các tai biến và biến chứng. Các phương pháp phá thai an toàn Dưới đây là một số phương pháp phá thai an toàn mà bạn có thể tham khảo. 1. Phá thai 3 tháng đầu: Là các phương pháp chấm dứt thai nghén đối với thai từ 6 tuần đến hết 12 tuần, tính từ ngày đầu tiên của chu kỳ kinh cuối cùng. Có hai lựa chọn: * Phá thai bằng thuốc: - Là phương pháp dùng phối hợp hai loại thuốc là Mifepristone và Misoprotol để chấm dứt thai nghén. - Chỉ được thực hiện đối với thai 7 tuần trở xuống, tính từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng. - Thuốc phá thai sẽ làm cho thai ngừng phát triển và gây co bóp dạ con để đẩy thai ra ngoài như bị sẩy thai. - Có hiệu quả chấm dứt thai nghén tới 96 - 98%. Lưu ...